Đọc Truyện Chọn Lọc :Hai Đầu Nổi Nhớ -Tác Giả Nguyễn Kỳ – Diễn Đọc : Hoài Hương và Trọng Nghĩa

Đọc Truyện : Hai Đầu Nổi Nhớ – Tác Giả : Nguyễn Kỳ – Diễn Đọc : Hoài Hương – Trọng Nghĩa 
Audio : truyện :Hai Đầu Nổi Nhớ – Hoài Hương- Trọng Nghĩa

Hai Đầu Nỗi Nhớ

                                                                                                               Nguyễn Kỳ – 16/5/2002

Cách đây hơn một tháng, người đưa thư ở xã cầm lá thư hỏi chú tôi có biết ai trong xã với cái tên… và địa chỉ… nầy không.  Chú tôi hiểu đây là tên và địa chỉ của tôi trước năm 1975 nên chú tôi nhận lá thư nầy rồi trao lại cho tôi…

Lá thư gửi từ Mỹ, đã nhàu nhưng không rách.  Thư gửi, người nhận đúng là họ tên tôi, nhưng ngay cả cái địa chỉ ngoài bì thư cũng làm cho tôi lúng túng một lúc mới nhớ ra, vì đó là địa chỉ nhà tôi cách đây hơn 40 năm, thuở tôi còn đi học ở quê nhà, mà người gửi lá thư này cũng làm tôi bỡ ngỡ.

Ai thế này nhỉ?  Minh Thủy!

Ai nhỉ?  Phải một lúc sau, niềm hạnh phúc mới vỡ òa trong tôi, nhanh chóng ngập tràn trong lòng tôi và đột nhiên tôi thấy đau nhói ở ngực.  Tôi lặng người, cảm giác nửa như mừng rỡ, nửa nghẹn ngào. 

À Minh Thủy!  Minh Thủy!  Hình ảnh một cô bé nét mặt bầu bĩnh hiền hòa, mặc chiếc áo đầm xòe xanh đồng phục ngồi trên xe hoa nhấp nhánh đèn màu, diễn hành qua phố trong một ngày đại lễ, vụt hiện qua trí nhớ tôi.  Minh Thủy, cô bé 14 tuổi rất ngây thơ và thánh thiện, là học sinh lớp đệ ngũ của  trường nữ trung học công lập Lê-Văn-Duyệt,  Saigon, Gia Định cách đây hơn 40 năm.  Mối tình đầu của tôi đây; mối tình tuyệt đẹp và trong sáng của chúng tôi phải chăng đã đi giáp hết một vòng mấy mươi năm éo le và cách trở!?  Đến bây giờ sau ngần ấy năm không có tin tức cho nhau, lá thư này đến tay tôi hôm nay như là duyên số theo cái cách y như lá thư đầu tiên tôi gửi cho Thủy năm nào!

Thuở  ấy tôi đang học những năm cuối cùng bậc trung học ở miền Trung, nơi trời đày mưa lụt mỗi năm.  Rất tình cờ tôi đọc trên báo Phụ Nữ Sài Gòn mấy hàng ở mục “Giòng Lá Thắm”, rồi quen qua thư với Thủy, một “cô bé sinh ra ở Hà Nội, sống ở Sài Gòn và thương về miền Trung mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn” lời tìm bạn bốn phương của Thủy trên báo.  Thật ra tôi không thích chơi kiểu “gửi gió cho mây ngàn bay” này, nhưng như là duyên số và có lẽ cũng vì bạn bè thách đố trêu chọc, tôi quyết định viết thư cho Thủy, cũng là để vui chơi tinh nghịch của tuổi học trò mới lớn.

Chừng mười ngày sau, tôi nhận được thư Thủy.  Cảm giác của tôi khi nhận được hồi âm cũng chỉ là vui, là “thắng lợi” trước mặt bạn bè trang lứa.  Thư Thủy viết cho tôi cũng chỉ là thăm dò, là làm quen nhưng rõ ràng có pha chút làm dáng, nũng nịu của các cô gái mới lớn rất dễ nhận ra bởi câu chữ ngây thơ và nét chữ viết còn nắn nót, bé con viết chưa được thẳng hàng trên giấy pelure hồng không hàng kẻ.  Thủy quả là một “cô bé Bắc kỳ nho nhỏ”.  Về sau này tôi còn được biết thêm rằng bố mẹ Thủy đều đã mất trong một cuộc di cư vào Nam sau hiệp định Geneve 1954, để lại bốn chị em còn nhỏ dại mà Thủy là con út.  Thủy được vợ chồng người cậu ruột hiện là sĩ quan quân đội thuộc Sư Đoàn 7 Bộ Binh, Việt Nam Cộng Hòa đem về nuôi từ lúc vừa tròn ba tuổi.  Vì cậu mợ không có con nên xem Thủy như con một của cậu mợ.

Thư qua thư lại.  Những lá thư lúc đầu còn là chuyện thời tiết chợt mưa, chợt nắng của Sài Gòn hoa lệ, hay chuyện gió trăng của miền cát trắng thùy dương, rồi dần dà thành những trang thư kéo dài thương nhớ, mộng mơ, buồn vui với những đêm khó ngủ hoặc những bâng khuâng vào những buổi chiều bảng lãng bóng hoàng hôn, những ước mơ đẹp về tương lai của cả hai đứa…

Thời điểm này, những tin tức chiến sự đã bắt đầu nhiều hơn trên các nhật báo.  Tình hình an ninh ngày càng bất ổn, giao thông bị hạn chế, đi lại càng khó khăn, thông tin liên lạc chưa có.  Chính vì cách trở như thế, tôi lại càng thấy nỗi nhớ thương Thủy tăng thêm theo ngày tháng.  Đúng là sự cách trở như một cơn gió mạnh, nó làm bùng lên tình yêu chân chính và dập tắt đi tình yêu giả dối.  Cả hai đứa tuy “tình trong như đã” nhưng “mặt ngoài còn e”.  Đã nhiều lần tôi muốn đi tìm Thủy để được trông thấy Thủy bằng da bằng thịt, được cầm tay Thủy, được nghe giọng nói của Thủy.

Tôi chưa hề biết mặt Thủy dù Thủy đã gửi cho tôi một tấm hình sau khi tôi gửi cho Thủy hai tấm ảnh của tôi.  Nhưng ảnh của Thủy gửi cho tôi là một tấm hình gồm có nhiều cô bé mặc đồng phục xanh, ngồi trên xe hoa đầy màu sắc đang diễn hành.  Phía sau ảnh Thủy viết như đánh đố: “Em đây, anh thử đoán xem Thủy ở đâu nào?”  Đó là hình ảnh duy nhất của Thủy mà tôi có được cho đến bấy giờ sau hai năm thương nhớ nhau và cho mãi đến tận bây giờ đã hơn 40 năm xa cách.

Hai đứa thương nhau, nhớ nhau, như  đã yêu nhau hoàn toàn trên thư từ qua lại nhưng rõ ràng là rất thật lòng muốn gắn bó keo sơn.  Mỗi tuần hai lần gửi và nhận thư của nhau đều đều và chắc chắn.  Mỗi ngày, mỗi buổi tuy xa xôi và cách trở như thế nhưng chúng tôi biết rất rõ đứa nào đang làm gì, ở đâu.  Thủy đi học, đi chợ, giặt quần áo, nấu cơm hay đi picnic… tôi đều biết.  Hay tôi lên giảng đường, đá banh, về quê, vào rạp cine… chúng tôi đều “lên lịch” cho nhau biết.  Giận hờn và trách móc nhau vẫn có nhưng ít, vì chúng tôi rất tin tưởng nhau, đánh giá cao người yêu của mình.  Thư nào của chúng tôi cũng đều được chấm dứt với một câu nhắc nhở: “thương hoài ngàn năm”.  Càng về sau tôi còn được biết Thủy học rất giỏi và là hoa khôi của trường Thủy nữa.  Cậu mợ Thủy rất thương Thủy nhất là mợ.  Còn cậu Thủy thì ít khi có ở nhà vì luôn bận hành quân theo đơn vị.

Tôi vào đại học nên phải xa quê nhà.  Thủy đang học những năm cuối bậc trung học.  Chúng tôi yêu nhau nhưng không lơ là việc học, thường khuyến khích nhau “học cho nhau, học cho tương lai sáng ngời của hai đứa”.  Tôi vào Đại Học Sư Phạm.  Tôi hứa với Thủy là tôi sẽ viết văn và sẽ trở thành nhà văn Việt Nam đầu tiên lãnh giải Nobel văn chương.  Thủy đòi đi theo tôi với tư cách là phu nhân của nhà văn trẻ khi lãnh thưởng.  Chúng tôi xây đắp những mộng đẹp thật tuyệt vời.  Cuộc đời sao mà đẹp với chúng tôi đến thế!

Tôi tốt nghiệp Đại Học và được bổ về dạy tại một trường nữ trung học lúc còn rất trẻ, mới 22 tuổi.  Thuở  ấy như thế là tôi  có đầy đủ tiêu chuẩn của một chàng trai mà nhiều cô gái mơ ước, rất có tương lai.  Học trò tôi lúc ấy là những cô gái ở độ tuổi của Thủy và đấy là một thử thách ghê gớm đối với tình yêu của chúng tôi.  Qua thư, Thủy bắt đầu bóng gió, lo sợ sự “lửa gần rơm”, thói “xa mặt cách lòng của con trai mới lớn”.  Thủy muốn tôi đổi vào Sài Gòn cho được gần nhau.

Thế là một năm sau, khi sắp nghỉ hè, tôi quyết định đi gặp Thủy.  Thuở  ấy, từ miền Trung vào Sài Gòn không phải dễ.  Đường bộ thì bom mìn, sập cầu, đứt đoạn.  Đường sắt thì không thông suốt.  Chỉ có đường hàng không thì như chỉ dành cho lớp người giàu có và quân đội.  Thế nhưng dù mới chỉ là một anh giáo sư trẻ mới ra trường, vì Thủy, tôi cũng cố tìm cách chen vào hàng ngũ ấy một lần để được gặp Thủy dù rất tốn kém.  Tôi ngây ngất sung sướng khi mới chỉ nghĩ đến lúc gặp Thủy.  Thủy sẽ đưa tôi đi chơi đây đó ở Hòn Ngọc Viễn Đông, Thủy sẽ hãnh diện với bạn bè khi đi bên cạnh tôi, sẽ đưa tôi về ra mắt với cậu mợ Thủy.  Chắc chắn tôi sẽ cố gắng làm vừa lòng cậu mợ, đẹp lòng Thủy.  Nhưng tôi vẫn thấy lo lắng không biết Thủy có nhận ra tôi không?  Có thất vọng khi gặp tôi lần đầu?  Tôi có giống như người trong tưởng tượng của Thủy?  Gặp nhau là hạnh phúc hay đau khổ?  Biết bao câu hỏi và hàng loạt vấn đề được đặt ra trong tôi ở chuyến đi vô cùng quan trọng và hồi hộp này.  Tôi viết cho Thủy một lá thư thật dài để chuẩn bị cho chuyến đi.  Tôi chờ đợi hồi âm reo vui của Thủy…  Một đợt thư trôi qua, không có!  Hai đợt.  Rồi một tuần.  Vẫn bặt tăm!  Tôi đã bắt đầu thấy nóng ruột.  Hai tuần.  Vẫn không thấy tin tức gì!  Chưa bao giờ có sự mất hút Thủy lâu như thế này.  Có cái gì không hay cho Thủy chăng?  Thủy có hề gì không?  Hay Thủy đau?  Lúc này tôi mới thấy sự cần thiết Thủy phải có một người bạn thân để chia xẻ, hỏi han.  Trước đây đã có lần tôi bảo Thủy tìm một người bạn thân để tâm sự, để nhân đôi hạnh phúc của hai đứa.  Nhưng Thủy bảo:  “bạn em chúng rất thông minh, đừng cho chúng biết chúng mình yêu nhau”. 

Tôi như người mất hồn, sa sút hẳn tinh thần.  Có thật như thế này không?  Vẫn không thấy hồi âm!  Hay Thủy chỉ là một chàng trai nào đó giả danh đùa cợt với tôi chăng?  Tôi bắt đầu thấy mình non nớt, cả tin.  Hay Thủy không muốn gặp tôi?  Tôi thấy sợ và xấu hổ.  À, có thể lắm.  Đến bây giờ tôi mới sực nhớ lại cái gốc chân quê của mình mà tôi đã không hề dấu Thủy ngay từ lá thư đầu tìm hiểu.  Còn Thủy thì lại có nếp sống thượng lưu, xinh đẹp và học giỏi.  Tôi cảm thấy thất vọng và tự đay nghiến mình.

Thế rồi một hôm, tôi đến trường, như mọi lần, người thư ký đưa cho tôi một lá thư lạ.  Với tôi thuở  ấy, tôi không lạ gì những bức thư bất ngờ đầy tình cảm lãng mạn.  Nhưng tôi không ngờ đó lại là lá thư của cậu Thủy. 

Lời thư rất điềm đạm và tình cảm nhưng làm tôi thật sự choáng váng.  Trong thư ông bảo rằng ông vừa về thăm nhà sau cuộc hành quân thì bất ngờ nhận được lá thư của tôi gửi cho Thủy.  Ông cho biết Thủy mồ côi cha mẹ, ở với ông từ bé và đang còn quá nhỏ.  Ông “đề nghị” tôi hãy để cho Thủy học, đừng viết thư cho Thủy nữa và không nên cho Thủy biết ông đã viết thư cho tôi.  Tôi hoàn toàn chới với và đổ vỡ, không biết phải làm gì cho hợp lý!  Cách xử sự của ông tuy nhẹ nhàng nhưng nghiêm khắc làm tôi vừa sợ, vừa lo.  Làm sao bây giờ?  Tôi có làm gì phương hại đến sự học của Thủy đâu?  Chúng tôi động viên khuyến khích nhau cố học đấy chứ.  Tình yêu của chúng tôi từ lâu nay là động cơ thúc đẩy chúng tôi lo học mà!  Cơ sự như thế này, không thể không cho Thủy biết.  Thủy sẽ có cách để chúng tôi vượt qua thử thách này.  Nhưng sao Thủy lại im lặng thế này?  Hay Thủy chưa biết gì?  Tôi chờ đợi.  Tôi trông ngóng.  Cho đến khi không thể chờ đợi được nữa, tôi liều lĩnh viết tiếp thư cho Thủy.  Và điều gì phải đến đã đến.  Tôi lại nhận được lá thư thứ hai của ông.  Cũng bằng sự điềm đạm và khôn khéo nhưng nghiêm khắc và có vẻ giận dữ, ông báo cho tôi biết ông rất bất bình với tôi về việc không nghe lời ông và ông đã có biện pháp cách ly Thủy cũng như cách trừng phạt tôi nếu tôi còn viết thư cho Thủy.  Tôi đau khổ và thất vọng hoàn toàn.  Làm sao để thông báo cho Thủy biết tình trạng này?  Nếu không Thủy sẽ lại hiểu lầm tôi!  Mối tình của chúng tôi có nguy cơ bị tan vỡ.  Tôi muốn Thủy phải hiểu đây chỉ là một thử thách.  Hãy tin tưởng.  Hãy kiên trì và phải biết chờ đợi.  Tuy bị cắt đứt liên lạc nhưng tôi không nghi ngờ gì lòng Thủy mà lại càng thấy thương và tội cho Thủy hơn.  Có lẽ Thủy cũng đang đau khổ như tôi bây giờ.  Tôi còn có thể làm gì được cho Thủy!  Tôi nghe được trong tôi vị đắng cay ngọt ngào của tình yêu đầu đời bị thách thức.

Mùa hè năm ấy qua đi nặng nề và buồn chán.  Niên học lại bắt đầu, tôi đi dạy trong tâm trạng u hoài thương nhớ Thủy khôn nguôi.  Tôi không tin đã mất Thủy mà vẫn hy vọng và đợi chờ tin Thủy từng giờ vào lớp.  Vì thế tôi dửng dưng với những tình cảm lãng mạn của đám học trò của mình đang phơi phới tuổi dậy thì vây quanh tôi.  Sẽ không ai có thể thay thế được hình ảnh đẹp lộng lẫy của Thủy trong tôi, dù tôi chưa hề biết mặt Thủy.

Đúng vào thời gian này, tôi lại bị động viên vào trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức.  Với nhiều người, thời gian này là thời điểm chiến sự càng ngày càng ác liệt.  Vào quân đội là cả một sự nguy hiểm khôn lường.  Nhưng tôi lại cho đó là một cơ hội quý hiếm để có thể tìm gặp Thủy.  Tôi phơi phới xếp bút nghiên lên đường, bỏ lại sau lưng những an lành của hậu phương phố thị và trong ánh mắt có đuôi của những cô học trò đưa tiễn…

Chín tháng quân trường với những kỷ luật sắt của một trường đào tạo sĩ quan quân đội cũng không làm tôi quên được hình ảnh Thủy.

Những ngày chủ nhật thăm nào tôi cũng chờ đợi được gọi tên ra bãi tiếp tân, chờ đợi sự mầu nhiệm của lòng ước ao, sự kỳ ngộ của tình yêu chung thủy.  Hình dáng tôi thay đổi hoàn toàn, rắn rỏi và phong sương, nhưng lòng tôi vẫn mềm, vẫn cứ hướng về Thủy, chờ đợi và mong ước có dịp là đi tìm Thủy, bởi vì tôi vẫn tin rằng Thủy cũng đang cần gặp tôi.

Ngày lễ mãn khóa ra trường cũng đúng vào những ngày chiến sự bất ngờ lan vào thành phố.  Chúng tôi được lệnh điều lên Sài Gòn để giữ an ninh.  Tôi mừng rỡ như mở cờ trong lòng, oai vệ trong bộ lễ phục sĩ quan trừ bị, rắp tâm tranh thủ cơ hội này đi tìm Thủy.

Chúng tôi được đưa vào trung tâm thành phố và đổ xuống một khu vực có nhiều nhà cao tầng.  Tôi ngỡ ngàng và mất phương hướng vì là lần đầu tiên tôi được đặt chân xuống Sài Gòn hoa lệ.

Loay hoay một lúc tôi mới xác định được đây không phải là khu vực có nhà của Thủy.  Nhiệm vụ trên vai, nhưng lòng tôi thì mong đi tìm Thủy.  Thủy đang ở đâu đây, đang rất gần tôi.  Vất vả và liều lĩnh sau cả buổi hỏi han và tìm kiếm, cuối cùng tôi cũng đứng được trước ngôi nhà của Thủy.  Cửa đóng kín như mọi nhà cùng phố vì đang những ngày giới nghiêm.  Đường phố vắng ngắt và không gian như đặc lại.  Đã nhiều lần tôi có ý định xông vào, bất chấp cơ sự có ra sao cũng mặc kệ!  Nhưng rồi tôi vẫn không đủ can đảm gõ cửa.  Đến lúc này tôi lại thấy mình thật lố bịch và thiếu chín chắn.  Tôi thấy sợ!  Có Thủy ở nhà không?  Nếu không thì sao?  Tôi sẽ nói sao khi gõ cửa lại gặp đúng cậu mợ của Thủy?  Cậu của Thủy sẽ trừng phạt tôi và có thể là cả Thủy nữa, nếu biết tôi sau nhiều năm rồi mà vẫn còn theo đuổi Thủy đến tận nhà!  Hình ảnh cậu Thủy, một ông sĩ quan lạnh lùng có những ánh mai bạc trên cầu vai như những ông sĩ quan ở quân trường làm tôi ngần ngại.  Bộ lễ phục sĩ quan trên người có làm tôi oai vệ bảnh bao thật nhưng bây giờ lại không giúp trấn an được lòng tôi.  Tôi đứng tần ngần trên vỉa hè chờ đợi và thầm mong một điều kỳ diệu. 

Nhưng điều kỳ diệu mong ước chẳng bao giờ tới mà những người đồng đội tôi lại đến tìm và báo với tôi rằng tôi bị khép tội đào ngũ trong khi đang hành quân!  Nếu không nhờ những thành tích sinh hoạt xuất sắc của tôi đem vinh dự về cho cả tiểu đoàn trong thời gian ở quân trường thì tôi đã bị đưa đi làm lao công đào binh ở chiến trường rồi.  Thế nhưng tôi vẫn bị kỷ luật là không được biệt phái về lại trường cũ như những bạn đồng nghiệp cùng khóa.  Tôi không ân hận, nhưng thấy tiếc đã để vụt qua mất hạnh phúc trong tầm tay.  Tôi chỉ còn cách Thủy của tôi trong và ngoài một lớp cửa.  Ấy thế mà tôi phải vĩnh viễn không còn cơ hội!

Tôi ra trường và được đưa ngay ra mặt trận, đóng quân trên một ngọn đồi cao chập chùng bất ổn.  Hình ảnh Thủy cứ theo tôi, lúc thì vỗ về, an ủi, lúc thì quay quắt nhớ thương.  Gian khổ và hiểm nguy, dầy dạn và phong trần trong suốt nhiều năm làm lính ở chiến trường vẫn chưa có hình ảnh nào thay thế được Thủy trong tôi.

Thế rồi trong một lần nghỉ phép ngắn ngày, tôi trở lại thăm căn gác cũ ngày nào thì nhận được tờ điện tín đã gửi đến từ khá lâu, báo tin tôi tôi sẽ được biệt phái về trường cũ vào ngày Quốc Khánh sắp đến.  Tôi run lên vì sung sướng và hạnh phúc bởi tôi biết chắc rằng bức điện này được đánh đi từ Thủy:  “Anh được biệt phái kể từ Quốc Khánh tới”.  Không có tên người gửi, chỉ có dấu bưu cục Sài Gòn.  Đây là địa chỉ của riêng hai chúng tôi hồi còn “chỉ hai chúng mình thôi nhé!”  Tôi lặng người đi khi nghĩ ra rằng từ lâu nay, ở đâu đó Thủy vẫn cứ âm thầm theo dõi dấu chân tôi, vẫn níu giữ yêu thương tôi từ xa trong lặng lẽ một mình và vẫn lo lắng cho tôi trong suốt những năm dài xa cách.  Làm sao Thủy biết tôi vào quân đội?  biết tôi sắp được biệt phái?  Có phải nàng đã tìm cách can thiệp giúp tôi sớm trở lại đời sống dân sự bình yên?  Thủy đang làm gì?  Ở đâu?  Và đã ra sao rồi?!

Tôi được trở về trường cũ, trở lại với vai trò một thầy giáo đã từng mặc áo lính nhưng với tâm trạng không bình yên.  Cuộc chiến đã làm tôi thay đổi cách nhìn xung quanh mình nhưng tình yêu Thủy trong tôi không hề thay đổi.  Tôi thường có cảm tưởng Thủy đang ở đâu đó, đang nhìn tôi thử thách, đợi chờ.  Có khi là cái nhìn âu yếm thiết tha lúc tôi đọc lại những lá thư cũ của nàng; có lúc là ánh mắt hờn dỗi lặng buồn khi những cô học trò đến thăm tôi trên căn gác trọ.  Tấm ảnh duy nhất của Thủy gửi ngày mới quen nhau tôi lồng khung và để trên bàn viết, giờ tôi đã cất vào trong ngăn kéo.  Hình ảnh cô bé Bắc kỳ nho nhỏ, mặc áo đầm xanh, ngồi trên xe hoa nhấp nhánh ánh đèn xanh đỏ diễn qua phố thường làm tôi khó ngủ.  Tôi xin dạy thêm giờ ở nhiều trường khác để không còn thời gian nhớ đến Thủy.  Tôi chạy đua với công việc, bận rộn với những hoạt động xã hội, gia nhập các hội đoàn, tham gia các lễ hội…  Thời gian trôi qua nhanh và cuộc sống đầy biến động từng ngày nhưng lòng tôi vẫn cứ thấy u hoài.  Thật tình tôi cũng muốn quên Thủy cho thanh thản nhưng không quên được!  Không quên được hay chưa quên được!  Gần chín năm rồi còn gì!  Có khi bây giờ Thủy đã có chồng có con và một gia đình đầm ấm hạnh phúc.  May ra nay đã tay bồng tay mang.

Bây giờ, sau gần 40 năm kể từ lúc tôi đứng âm thầm chờ điều kỳ diệu trước cửa nhà Thủy năm nào, nay điều kỳ diệu muộn màng ấy mới hiện ra.  Cầm lá thư Thủy trong tay, tôi mừng rỡ mà lòng cay đắng!  Muộn quá rồi Thủy ơi!  40 năm bóng chim tăm cá và một lá thư lạc loài hú họa, suýt tí nữa, lại y như là số mệnh, là người ta sẽ trả lại cho Thủy ở bên kia bờ đại dương: 

Anh thương mến!

Minh Thủy của anh đây.  Không biết anh có còn nhớ em không?  Ngày xưa em còn là một cô bé ngây thơ, nay đầu đã hai thứ tóc vì sương gió chất chồng.

Anh và Thủy chưa một lần gặp mặt mà giờ đây em thấy nhớ anh vô cùng.  Không biết giờ này anh ở đâu, đang làm gì, sức khỏe ra sao?

Em vẫn còn nhớ như in những lá thư anh viết cho em ngày xưa và anh  ước mơ dẫn em đi lãnh giải thưởng Nobel… Nếu anh còn nhớ chút gì về em thì hãy viết thư cho em.  Nhớ anh quá,  em viết đại lá thư này cho anh, ước mong anh vẫn còn ở chỗ cũ.  Nếu anh đi nơi khác, em cầu xin người tốt bụng nào đó sẽ giúp em chuyển lá thư này đến anh.  Em vô cùng đa tạ.  Cầu trời phật cho thư này đến tay anh.

Bây giờ đã hơn 3 giờ sáng.  Trời Cali. Đang rất lạnh.  Em nhớ thương anh chất ngất, một tình yêu của tuổi dại khờ.  Anh ơi!  Hãy viết thư cho em ngay khi anh nhận được thư này nhé anh.  Em đang mong chờ tin tức về anh.  Em muốn nghe anh kể lại tất cả những vui buồn của  40 năm chúng mình xa cách.  Hãy viết thư cho em đi.

Em vừa xem trên TV một phim Mỹ, kể chuyện về hai người yêu nhau, nhưng vì loạn lạc chiến chinh, họ mất nhau.  Ông nầy viết một cuốn nhật ký về mối tình của mình và khi yên giặc ông đã già và bị bịnh nặng.  Nằm trên giường bịnh,  ông nhờ một cô y tá mỗi ngày đọc lại cuốn nhật ký ấy cho ông nghe.  Ánh mắt ông sung sướng vui buồn theo từng trang nhật ký cô y tá đọc.  Đến khi cô y tá đọc xong trang cuối cùng,  thì cũng là lúc ông nhắm mắt vĩnh viễn ra đi…

Em bây giờ cũng muốn vậy.  Em đang chờ thư anh.  Em muốn đọc thư anh.  Hãy viết cho em thật dài như 40 năm qua nghe anh.  Bây giờ nếu được đọc xong lá thư của anh mà em phải trút hơi thở cuối cùng thì đó cũng là cái hạnh phúc cuối đời mà em sẵn sàng chờ đợi.

Em đang từng ngày chờ thư anh.  Đừng để em phải chờ quá lâu hoặc mất anh thêm một lần nữa nhé anh.  Anh hãy nhớ rằng bao giờ và ở đâu em cũng nghĩ đến anh và nhớ anh vô cùng dù chưa một lần gặp mặt…

Minh Thủy của anh đây. Mong thư anh và chúc anh vui mạnh.

Thương hoài ngàn năm!

Minh-Thủy