Tiếng hát: Thiên Hoàng – Ca khúc :Hòn Vọng Phu 1-2-3

Tiếng hát: Thiên Hoàng

– Ca khúc :Hòn Vọng Phu 1-2-3

1/- Ca Khúc Hòn Vọng Phu 1- Nhạc: Lê Thương – Hòa âm: Lê Hoàng Long- Ca sĩ : Thiên Hoàng

2/- Ca Khúc Hòn Vọng Phu 2 – Nhạc Lê Thương – Hòa Âm :Lê Hoàng Long- Ca sỉ: Thiên Hoàng

3/- Ca khúc: Hòn Vọng Phu 3 – Nhạc: Lê Thương – Hòa Âm: Lê Hoàng Long – Ca sĩ: Thiên Hoàng

 

Lời 3 bài hát : Hòn Vọng Phu 1-2-3

Hòn Vọng Phu 1

Tác giả : Lê Thương

Lệnh vua hành quân trống kêu dồn
Quan với quân lên đường,
Đoàn ngựa xe cuối cùng,
Vừa đi theo lối sông.
Phía cách quan sa trường,
quan với quân lên đường,
hàng cờ theo trống dồn
ngoài sườn non cuối thôn,
phất phơ ngậm ngùi bay .

Qua Thiên San kìa ai tiễn rượu vừa tàn,
Vui ca xang rồi đi tiến binh ngoài ngàn.
Người đi ngoài vạn lí quang sơn,
Người đứng chờ trong bóng cô đơn.
Bên Man Khê còn tung gió bụi mịt mùng,
Bên Tiêu Tương còn thương tiếc nơi ngàn trùng.
Người không rời khỏi kiếp gian nan,
Người biến thành tượng đá ôm con.

Ngựa phi ngoài xa hí vang trời,
Chiêng trống khua trăm hồi,
Ngần ngại trên núi đồi,
Rồi vọng ra khắp nơi
Phía cách quan xa vời,
chiêng trống khua trăm hồi,
ngần ngại trên núi đồi,
rồi dậy vang khắp nơi
thắm bao niềm chia phôi.

Vui ra đi rồi không ước hẹn ngày về,
Ai quên ghi vào gan đã bao nguyện thề.
Nhìn chân trời xanh biếc bao la,
Người mong chờ vẫn nhớ nơi xa
Bao nhiêu năm bồng con đứng đợi chồng về,
Bao nhiêu phen thời gian xóa phai lời thề,
Người tung hoành bên núi xa xăm,
Người mong chồng còn đứng muôn năm

 

Hòn Vọng Phu 2

Tác giả: Lê Thương

Người vọng phu trong lúc gió mưa,
Bế con đã hoài công để đứng chờ,
Người chồng đi đã bao năm chưa thấy về
Đá mòn nhưng hồn chưa mòn giấc mơ

Có đám cây trên đồi gióng trông trong mơ hồ,
Ngày nào tròn trăng lại nhớ đến tích xưa..
Khi tướng quân qua đồi, kéo quân, quân theo cờ,
Đoàn cỏ cây hãy còn trẻ thơ cho đến bây giờ đã thành đoàn cổ thụ già
Mà chờ người đi mất từ ngàn xưa,
Nàng đứng ôm con, xem chàng về hay chưa? Về hay chưa?

Có ai xuôi vạn lý nhắn đôi câu giúp nàng,
Lấy cây hương thật quý, thắp lên thương tiếc chàng.
Thôi đứng đợi làm chi, thời gian có hứa mấy khi sẽ đem đến trả đúng kỳ
Những người mang mệnh biệt ly

Trời chuyển mưa trong tiết tháng ba,
Suốt năm nước nguồn tuôn đổ xuống “Bà”, hình hài người bế con nươc chảy chan hòa, Thấm vào đến tận tâm hồn đứa con,
Nên núi non thương tình kéo nhau đi thăm nàng nằm thành Trường Sơn vạn lý xuyên nước Nam.
Dâng lá hoa suối nguồn với muông chim vô vàng
Bầy cảnh Nam Bắc đầy cỏ hoa
như cố khuyên nàng trở về, chớ đừng để xuân tàn,
nhiều đồi rủ nhau kéo thành đảo ra tới tận khơi ngàn…
Xem chàng về hay chưa, về hay chưa?

Chín con long thật lớn, muốn đem tin tới nàng, núi ngăn không được xuống, chúng kêu ca dưới ngàn.
Ta cố đợi nghìn năm, một nghìn năm nữa khác sẽ qua, đến khi núi lở sông mòn, mới mong tới Hòn Vọng Phu

Một nghìn năm vừa mới thoáng qua
Núi non nao lòng nức nở khóc Bà
Một loài chim xứ xa bỗng nhiên vô tình
Bảo rằng: Đến lượt sơn hà chiến chinh
Non sông xuyến xao tấc lòng
tiến quân nghe ban truyền
Người đời rủ nhau mài kiếm đi viễn chinh
Dân gian thoát qua mấy lần ách tham ô quân quyền
Mà vì hồn thanh kiếm còn chờ linh
Nên khiến sắt son bẽ bàng mắc nợ còn chưa đền
Nhiều người tìm thanh kiếm thần thuở xưa
Đi xuống Phương Nam xem chàng về hay chưa
Về hay chưa????
Có con chim nhỏ bé
Dám ca câu sấm thề
Cuối thu năm Mậu Tý
Tướng quân đem kiếm về
Đời mong đợi thằng con
Ngày nào nó xuống núi non
Xuất chinh với cả mối thù
Nối lại giống nòi chinh phu
Nối lại giống nòi chinh phu

Hòn Vọng Phu 3

Tác giả: Lê Thương

Nơi phía Nam giữa núi mờ
Ai bế con mãi đứng chờ
Như nuớc non xưa đến giờ?

Đuờng chiều mịt mù cát bay tỏa buớc ngựa phi
Đuờng truờng nếp tàn y hùng cuờng vẫn còn bay trong gió
Bóng từ xa sắp dần qua bóng chàng chập chùng vuợt núi non cũ
Với hành luơng độ đường
Chiếc hùng guơm danh tuớng
Duới tà uy đếm nhịp đi vó ngựa phi
Dấn buớc tang bồng giữa nơi núi rừng

Bên nợ tình thâm, bên nợ giang san
Bên đồi ai oán, bên rừng đa đoan tiễn đưa bóng chàng
Đuờng về nuớc chập chùng xa
Nhiều đồi núi cheo leo
Cây với rừng ruờm rà
Đuờng Vạn Xuyên, đuờng cổ Lũy
Duyên núi sông vẫn như thắm nhòa

Đò vạn lý, Đò ải quan,
đò rừng lá nuớc trong bao cá lội từng đàn
Thành Cổ Loa, Đền Vạn Kiếp,
Bao tháng năm vẫn chưa xóa nhòa

Tiếng núi non lưu luyến tấc lòng bao nghìn năm
Tiếng gió cồn như tiếng trống dồn buổi khuya vắng
Từ bóng cây ngôi mộ bên đuờng
Từ mái tranh bên đình trong làng
Nguồn sử xanh âm thầm vẫn sống
Bao mối thuơng vang động trong lòng
Đồi lan, đồi quế rắc kho huơng nồng
Rừng sao đua đòi rừng trắc
Lo che ánh lửa vầng duơng tiếp đưa bóng chàng

Đuòng cao đuờng thấp khắp khe chân chàng
Nhìn qua con đuờng mòn cũ
Quanh co mấy buổi tà duơng mới mong tới làng

Nhớ cố huơng lưu luyến sao tiếng tấc lòng mau dồn chân
Vết buớc đi trên phím đá mòn còn in dấu
Từ bóng cây ngôi mộ bên đuờng
Từ mái tranh bên đỉnh trong làng
Nguồn sử sanh âm thầm vẫn sống
Bao mối thuơng vang dậy trong lòng

Hòn Vọng Phu

Những Núi Vọng Phu Tại Việt Nam

“Đồng Đăng có Phố Kỳ Lừa,
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”.
Dọc từ bắc vào nam, có những hòn đá mang hình người đàn bà bồng con chờ chồng đã gắn với những truyền thuyết huyền thoại.

Những hòn Vọng Phu ấy đã trở thành hình tượng đẹp đầy tính nhân văn, ca ngợi lòng chung thủy, nhân hậu của người phụ nữ Việt Nam.Truyền thuyết về hòn Vọng Phu hình người phụ nữ ôm con chờ chồng đến hóa đá, là hình tượng đẹp đầy tính nhân văn của Việt Nam. Hòn Vọng Phu đã đi vào thơ ca, âm nhạc, điện ảnh, sân khấu, ca ngợi lòng chung thủy, nhân hậu của người phụ nữ Việt Nam.

Núi Vọng Phu ở Lạng Sơn: nằm ở phía bắc Thành phố Lạng Sơn, trong quần thể cảnh quan Động Tam Thanh và Chùa Tam Thanh (thuộc địa bàn Phường Tam Thanh, Tp Lạng Sơn). Núi này còn được gọi là núi Tô Thị.

Trên đỉnh núi có một khối đá tự nhiên hình một người phụ nữ bồng con hướng nhìn về phương xa. Từ xa xưa tượng đá tự nhiên này đã gắn với truyền thuyết về một người con gái chung thuỷ đứng chờ chồng. Chờ mãi không thấy chồng về, nàng và con đã hoá thành đá, từ đó người dân gọi đây là tượng Nàng Tô Thị.

Núi Vọng Phu ở Thanh Hóa: thuộc xã Đông Hưng, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Đây là một ngọn núi đá vôi được thiên nhiên tạo nên hình một người phụ nữa đang quay mặt về phía biển Đông.

Hình tượng này gắn với truyền thuyết người đàn bà chung thuỷ chờ chồng đến hoá đá. Vì vậy ngọn núi này có tên gọi là Vọng Phu (vọng có nghĩa là trông, ngóng, phu là người chồng).

Núi Vọng Phu ở Nghệ An: ngọn núi bên bờ khe Giai.

Núi Vọng Phu ở Quảng Trị thuộc huyện Vũ Xương, ở cửa bể đạo Thuận Hóa thuộc tỉnhQuảng Trị bây giờ.

Núi Vọng Phu ở Ðá Bà Rầu (Quảng Nam – Ðà Nẵng)

Núi Vọng Phu ở núi Bà (Bình Ðịnh):thuộc dãy núi Bà, địa phận thôn Chánh Oai, huyện Phù Cát. Mỏm đá xanh trên đỉnh núi cao, nhìn ra Vũng Rô, cạnh suối Bún. Nếu ta ngồi thuyền dưới biển nhìn vào trông giống một bà mẹ dắt con đăm đăm nhìn ra khơi như ngóng trông.

Núi Vọng Phu ở Tuy Hòa: Người dân Biển Tuy Hòa cũng gọi ngọn núi Đá Bia là núi Vọng Phu. Núi cao 706 m thuộc dãy Đèo Cả, chân núi phía Nam giáp biển Vũng Rô, trên đỉnh có 1 khối đá lớn, mọc dựng đứng, chóp nhỏ và tròn trông tựa hình người đàn bà.

Núi Vọng Phu ở Khánh Hòa: Cách bờ biển Đông 30km, và cách Khánh Chỉ (Ma Rạc), huyện lỵ Khánh Dương (Khánh Hòa) 18 km, có 1 khối đá hoa cương khổng lồ vươn thẳng lên trời, bên cạnh có một khối đá nhỏ hơn, trông xa y hệt một bà mẹ bồng con chờ người thân một đi không trở lại.

Núi Vọng Phu ở tỉnh Đắk Lắk: Núi Vọng Phu cũng có tên là núi Mẫu Tử, cao 2051 thước, trước kia thuộc tỉnh Darlac. Cao nguyên M’Drăk là nơi sở hữu một trong những ‘’nàng Tô Thị’’ bằng đá tự nhiên rất nổi tiếng ở Việt Nam .

Núi Vọng Phu ở Tây Ninh: Núi Bà Đen ở Tây Ninh, thờ Linh Sơn thánh mẫu, xưa kia gọi là Núi Một. Hơn hai trăm năm nay mang tên là núi Bà Đen, nguyên do sự tích: Xưa có một cô gái người Trảng Bàng xinh đẹp tuyệt trần, nước da ngăm đen, tên là Lý Thiên Hương. Thiên Hương thường đi lại cúng hương hoa ở một ngôi chùa trong núi. Chẳng may, cô bị bọn cướp hành hung. Có một chàng trai thấy sự bất bằng, ra tay đánh tan bọn cướp. Hai người yêu thương nhau. Chàng ra lính xa. Bọn cướp trả thù bắt nàng, nàng chạy trốn trong núi Một và mất ở đó. Vị hòa thượng trụ trì trên chùa chôn cất nàng tại sườn núi phía Đông. Nàng thường hiển linh cứu giúp người hiền. Dân chúng tưởng niệm, coi nàng là Linh Sơn Thánh Mẫu, hương khói phụng thờ, gọi núi Một là núi Bà Đen.

Núi Vọng Phu ở xã Ninh Tòng, huyện Ninh Hòa, Khánh Hòa có tên là núi Mẫu Tử, giáp ranh xã Krong Hin, huyện Mơ Ðrắc, cao 2.051 mét. Ðây là ngọn núi cao nhất của Khánh Hòa. Chóp núi là một khối đá hoa cương khổng lồ, bên cạnh có một khối nhỏ hơn, trông xa tựa hình người, đứng xa 40 km vẫn rõ hình ảnh mẹ bồng con ngóng ra biển Ðông:

Bồng con ngồi dựa trên non.
Trăng thu vằng vặc dạ còn nhớ trông.

Theo Quách Tấn trong Xứ Trầm Hương, núi Vọng Phu này người Pháp gọi là La Mère et L’Enfant – dịch ra là Mẹ Bồng Con, và còn có tên khác là Mông Công, đọc trại ra thành Bồng Con; đồng bào dân tộc trong vùng gọi là T’Yang Mtên. Những người lớn tuổi trong vùng Ninh Hòa – Vạn Giã đều cho rằng trông lên hòn Vọng Phu, đứa con càng ngày càng lớn trong vòng tay mẹ, còn bà mẹ thì ngày càng già yếu mỏi mòn vì bao nhiêu năm dạn dày sương gió.

Quen thuộc nhất là hòn Vọng Phu trên núi Tô Thị ở Lạng Sơn. Hòn Vọng Phu ở Lạng Sơn được mọi người biết qua câu ca dao quen thuộc:
Ðồng Ðăng có phố Kỳ Lừa –
Có nàng Tô thị, có chùa Tam Thanh…

Núi Tô Thị nằm gần sông Kỳ Cùng, gần động Tam Thanh. Ở sườn núi nhô lên một khối đá, xa trông như một bà mẹ bồng con, cách nay mấy năm đã bị một số người lấy đá nung vôi, sau đó được phục chế. Chuyện kể rằng Tô Thị người nết na, duyên dáng, lấy chồng là chàng trai nhà nghèo nhưng học giỏi tên là Ðậu Kim Liên. Ðinh Trưởng cũng mê Tô Thị, đã dùng quyền lực bắt Ðậu Kim Liên đi lính. Tô Thị ngày ngày lên núi trông ngóng chồng đến hóa đá. Ðinh Trưởng thấy lạ tìm xem, bị người đá vung cát vào mắt té ngựa chết. Dân tộc Nùng ở Lạng Sơn cũng có sự tích hòn Vọng Phu này và gọi là sự tích đá trông Chồng.

Ðến Thanh Hóa, chúng ta thấy trên đỉnh núi Nhồi một cột đá đứng sững cao khoảng 20 mét giống hình người phụ nữ ôm con, dân địa phương gọi là hòn Vọng Phu.

Vọng Phu cảnh đẹp núi Nhồi
Có người chinh phụ mắt ngời đăm đăm.

Núi Vọng Phu thuộc huyện Phù Cát – Bình Định
Hòn Vọng Phu thuộc thôn Chánh Oai, xã Cát Hải, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, là hai khối đá, một cao, một thấp trông tựa hình người.

Từ phía biển nhìn vào giống như một người đàn bà tay dắt con đang ngóng nhìn ra phía khơi xa. Đá Vọng phu cao cách mặt biển 700m, thời Tây Sơn khởi nghĩa nơi đây là “Vọng hải đài” có thể kiểm soát một vùng trời biển rộng lớn. Tác phẩm như có hồn của tạo hoá đã khiến con người phải động lòng. Khối đá xanh đứng hoài dưới nắng mưa, thi gan cùng năm tháng đã biểu tượng cho lòng chung thuỷ của nghĩa vợ chồng trong tâm thức dân gian.

Núi Vọng phu ở Bình Ðịnh còn gọi là “Núi Bà” vì tôn vinh người đàn bà tiết nghĩa, kiên trinh ấy mà có tên gọi như vậy. “Núi Bà” Bình Ðịnh sách xưa chép là Bô Chinh đại sơn. “Bô chinh” là phiên âm từ ngôn ngữ Chămpa, cũng như chữ Chiêm thành (Zhàn chéng) vốn dĩ phiên âm từ danh từ Chăm hoặc Chàm vậy.

“Núi Bà” hay “Bô chinh đại sơn” là dãy núi lớn như một quả tim khổng lồ đặt chính giữa cơ thể huyện Phù Cát. Mặt phía đông ngăn nước biển tràn vào đất liền; mặt phía nam và tây, tây bắc bảo vệ cuộc sống của cư dân các huyện Phù Cát, An Nhơn và Tuy Phước. Trên “Núi Bà” có con “suối treo” mà sách xưa gọi là “Bộc tuyền”, vì nước suối từ dốc cao đổ xuống như hình tấm lụa treo. Ngọn “chóp vung” của dãy Núi Bà là đỉnh cao nhất, cách mặt biển 1000m, di tích chùa ông Núi, một thắng cảnh tuyệt vời nằm ở lưng chừng đỉnh “chóp vung”, nơi mà Danh nhân Văn hóa Ðào Tấn từng ẩn cư và đề thơ.

Kể cũng lạ, khắp đất nước ta có khá nhiều nơi có núi mang tên “Vọng phu”, nghĩa là mong ngóng đợi chồng. Truyền thuyết về “Núi Vọng phu” na ná như nhau, đại khái là vì quá nghèo khổ mà hai anh em nhà nọ (anh trai và em gái) ngay từ thuở bé đã phải lưu lạc mỗi người một nơi “tha phương cầu thực”. Rồi nhiều năm sau vì không nhận ra nhau mà họ trở thành vợ chồng và có con. Bỗng một hôm họ có dịp tâm sự về cái quá khứ của mình, người chồng mới phát hiện: hóa ra vợ mình lại chính là em ruột mình. Anh ta tủi hổ: chỉ vì nghèo khổ mà dẫn họ đến phạm tội loạn luân. Thế là anh chồng bỏ nhà lặng lẽ ra đi, một cuộc ra đi không bao giờ trở lại. Người vợ bồng con năm tháng mòn mỏi trông mong chồng về, đến hóa đá mà nàng cũng chưa biết được vì sao chồng nàng lại mãi mãi ra đi. Chuyện nàng Vọng phu có thể có thật, cũng có thể không có, nhưng hình tượng hóa đá của nàng thì như một bản di huấn của tổ tiên nhắc nhở con cháu muôn đời về nỗi tủi nhục vì đói nghèo.

Có thể đây chỉ là một sự tích do dân gian thêu dệt, nhưng nó cứ được truyền từ đời này qua đời khác như một lời nhắc nhở và gửi gắm vào đó sự cảm phục đức thuỷ chung, một phẩm hạnh có thực của người phụ nữ Việt Nam.

(Du lịch, GO! – Biên tập từ Cadaovn và nhiều nguồn khác.)